Chuyển đến nội dung chính

Kỹ thuật nhuộm

Các nhóm thuốc nhuộm acid dùng cho Nylon

Bài viết trong series Nylon trong xưởng nhuộm

Bốn nhóm thuốc nhuộm acid gắn vào xơ Nylon theo bốn cách khác nhau, và chính cách gắn đó quyết định pH bể nhuộm, độ đều màu và độ bền màu. Nhóm dễ chữa loang nhất lại là nhóm bền màu kém nhất.

Bốn nhóm thuốc nhuộm acid cho Nylon vẽ thành bốn giọt thuốc nhuộm nằm trên sợi xơ, mỗi giọt được giữ lại bằng một số mối níu khác nhau: acid leveling một mối, nhuộm ở acid mạnh pH 3–4; phức kim loại 1:1 hai mối, acid rất mạnh pH 1,5–2,5; acid milling ba mối, acid nhẹ pH 5,5–6,5; phức kim loại 1:2 ba mối chắc cộng một mối phụ, acid nhẹ pH 4,5–6,5. Càng nhiều mối níu thì màu càng bền nhưng càng khó nhuộm đều
Càng nhiều mối níu giữ thuốc nhuộm lại trên xơ thì màu càng bền, nhưng càng khó chạy cho đều.

Cùng là thuốc nhuộm acid, nhưng các nhóm khác nhau có đặc điểm cấu tạo hóa học khác nhau, cách chúng gắn vào xơ Nylon cũng khác nhau, độ bền màu cũng khác nhau.

Hiểu đúng bản chất giúp chúng ta chọn đúng thuốc nhuộm theo yêu cầu độ bền màu, nhuộm đều màu cũng như áp dụng đơn nhuộm hợp lý.

Đặc thù của Nylon và thuốc nhuộm acid

Nylon chỉ có một lượng có hạn nhóm amine cuối mạch (NH2\ce{\bond{-}NH2}). Trong môi trường acid, các nhóm này bị proton hóa thành NH3+\ce{\bond{-}NH3^+} mang điện tích dương.

Thuốc nhuộm acid có các nhóm SO3H\ce{\bond{-}SO3H} và trong môi trường nước chúng phân ly thành SO3\ce{\bond{-}SO3^-} mang điện âm. Chúng sẽ kết hợp với nhóm NH3+\ce{\bond{-}NH3^+} của xơ Nylon tạo liên kết ion (còn gọi là liên kết muối). Liên kết này giữ thuốc nhuộm trên xơ Nylon.

Ba bước giải thích vì sao thuốc nhuộm acid bám được vào xơ Nylon: đầu tiên là sợi Nylon với đầu mạch chưa mang điện; cho acid vào thì đầu sợi mang dấu cộng; giọt thuốc nhuộm mang dấu trừ bị hút vào và bám chặt lấy đầu sợi
Acid làm đầu sợi mang điện dương, thuốc nhuộm mang điện âm – trái dấu thì hút nhau. Đó là mối níu chung của cả bốn nhóm.

Bài viết thuộc thư viện Chia sẻ kinh nghiệm của Alpha Software – phần mềm chuyên cho ngành dệt – nhuộm.

Thuốc nhuộm acid leveling

Cấu tạo: phân tử nhỏ, nhiều nhóm sulfonic (SO3H\ce{\bond{-}SO3H}) nên tan rất tốt trong nước.

Cách gắn vào Nylon: chủ yếu là liên kết ion giữa anion thuốc (SO3\ce{\bond{-}SO3^-}) và nhóm NH3+\ce{\bond{-}NH3^+} của xơ, trong môi trường acid mạnh (pH khoảng 3–4).

Đặc tính nhuộm:

  • Đều màu: thuốc di chuyển tốt, vì vậy dễ nhuộm đều màu. Đây là nhóm hay dùng để che sọc barré.
  • Độ bền màu: thấp nhất. Liên kết ion không phải là liên kết chặt. Mặt khác phân tử nhỏ nên lực hút phân tử giữa thuốc nhuộm và xơ Nylon (lực van der Waals) và lực kỵ nước rất yếu.
  • Màu phù hợp: màu nhạt, màu tươi.

Thuốc nhuộm acid milling

Cấu tạo: phân tử lớn hơn, cồng kềnh, ít nhóm SO3H\ce{\bond{-}SO3H} hơn, tính kỵ nước cao hơn.

Cách gắn vào Nylon: kết hợp liên kết ion với nhóm NH3+\ce{\bond{-}NH3^+}, cộng thêm lực van der Waals và tương tác kỵ nước giữa khung phân tử thuốc và mạch hydrocarbon của Nylon.

Đặc tính nhuộm:

  • Đều màu: khó hơn. Bắt màu nhanh, di chuyển kém, cần khống chế tốc độ nâng nhiệt và tốc độ giảm pH chặt (pH khoảng 5,5–6,5), thường phải dùng chất đều màu.
  • Độ bền màu: cao. Lực kỵ nước giữ chặt phân tử lớn trong xơ, bền giặt tốt. Hợp màu trung bình đến đậm.

Thuốc nhuộm phức kim loại 1:1

Cấu tạo: 1 phân tử thuốc tạo phức với 1 ion kim loại (thường là Cr3+\ce{Cr^3+}). Vẫn còn nhóm sulfonic tự do nên tan được, phân tử mang điện tích âm.

Cách gắn vào Nylon: liên kết ion giữa nhóm SO3H\ce{\bond{-}SO3H} và nhóm NH3+\ce{\bond{-}NH3^+} của xơ, kèm liên kết phức (chelat) giữa ion kim loại và nhóm amine (NH\ce{\bond{-}NH\bond{-}}) của Nylon.

Nhuộm ở pH rất thấp (khoảng 1,5–2,5): acid mạnh proton hóa nhiều nhóm amine hơn để tạo chỗ bám, đồng thời lượng H+\ce{H^+} cao trong môi trường acid mạnh cạnh tranh với thuốc nhuộm làm chậm bắt màu nên đều màu tốt hơn.

Đặc tính nhuộm:

  • Đều màu: trung bình, nhờ môi trường acid mạnh tăng tính di động của thuốc.
  • Độ bền màu: cao, đặc biệt bền ánh sáng và bền giặt tốt nhờ có thêm liên kết phức.

Lưu ý thực tế: bể acid rất mạnh (thường là H2SO4\ce{H2SO4}) dễ làm giảm bền cơ lý của sợi và không hợp với vải pha Spandex. Vì lý do này, nhóm 1:1 ngày nay ít được dùng hơn so với 1:2.

Thuốc nhuộm phức kim loại 1:2

Cấu tạo: 2 phân tử thuốc tạo phức với 1 ion kim loại (Cr hoặc Co) tạo thành phân tử phức rất lớn, gần như đối xứng, hầu như không mang nhóm sulfonic mà dùng nhóm phân cực nhẹ như SO2NH2\ce{\bond{-}SO2NH2} hoặc SO2CH3\ce{\bond{-}SO2CH3} để tan.

Cách gắn vào Nylon: chủ yếu nhờ lực van der Waals và tương tác kỵ nước rất mạnh giữa khối phức và xơ, liên kết ion chỉ đóng vai trò phụ. Nhuộm ở môi trường acid yếu đến gần trung tính (pH khoảng 4,5–6,5).

Đặc tính nhuộm:

  • Đều màu: khó nhất. Bắt màu nhanh ở giai đoạn đầu, khả năng di chuyển rất thấp. Bắt buộc dùng chất đều màu chuyên dụng và nâng nhiệt thật tỉ mỉ.
  • Độ bền màu: cao nhất trong các nhóm thuốc nhuộm acid. Bền ánh sáng, bền giặt và bền hóa chất đều vượt trội. Tuy nhiên chúng ít tươi sáng nên hợp màu đậm, mặt hàng đòi hỏi độ bền cao.
Bảng so sánh bốn nhóm thuốc nhuộm acid cho xơ Nylon theo tám chỉ tiêu: acid leveling có phân tử nhỏ nhất, tan tốt nhất, nhuộm ở pH 3–4, dễ đều màu và chữa loang nhất nhưng bền giặt kém nhất; acid milling và phức kim loại 1:1 nằm giữa; phức kim loại 1:2 có phân tử lớn nhất, nhuộm ở pH 4,5–6,5, bền giặt và bền ánh sáng cao nhất nhưng khó đều màu nhất
Bốn nhóm xếp cạnh nhau: nhóm càng dễ nhuộm đều màu thì càng kém bền màu, và ngược lại.

Bài tới tôi sẽ chia sẻ về quy trình nhuộm Nylon với thuốc nhuộm acid.

Kiểm lại vài điểm

Vải Nylon pha Spandex, màu đen đậm, khách yêu cầu bền giặt cao. Nhóm thuốc nhuộm nào phải loại đầu tiên?
  • Chưa đúng, nhưng gần. Leveling đúng là bị loại vì bền màu thấp nhất trong khi màu đen đậm cần độ bền cao. Nhưng nó không phá vải, còn câu hỏi tìm nhóm phải loại đầu tiên.

  • Ngược lại. Milling chạy ở pH 5,5–6,5 nên an toàn cho Spandex, và bền giặt tốt. Đây là một lựa chọn dùng được.

  • Đúng. Phức 1:1 nhuộm ở pH 1,5–2,5, thường bằng acid sulfuric. Acid mạnh đó làm giảm độ bền cơ lý của sợi và không hợp với vải pha Spandex. Độ bền màu cao không cứu nổi một tấm vải đã mất độ đàn hồi, và đây cũng là lý do nhóm 1:1 ngày nay ít dùng hơn nhóm 1:2.

  • Ngược lại hoàn toàn. Nhóm 1:2 chạy ở pH 4,5–6,5 và bền màu cao nhất trong bốn nhóm, nên nó là ứng viên số một cho ca này, dù sẽ phải nâng nhiệt rất tỉ mỉ.

Nhóm 1:1 và nhóm 1:2 cùng là phức kim loại. Vì sao một nhóm chạy ở pH 1,5–2,5 còn nhóm kia ở pH 4,5–6,5?
  • Kích thước không quyết định pH. Cách bám mới quyết định.

  • Đúng. Liên kết ion cần chỗ bám mang điện dương, mà chỗ bám đó chỉ có khi nhóm amine cuối mạch bị proton hóa, nên phải hạ pH thật thấp. Nhóm 1:2 hầu như không mang nhóm sulfonic và bám chủ yếu bằng lực van der Waals cùng tương tác kỵ nước, hai lực không cần điện tích.

  • Cả hai đều dùng Cr, riêng nhóm 1:2 có thêm lựa chọn Co. Đó không phải nguyên nhân của chênh lệch pH.

  • Nó hợp màu đậm thật, nhưng đó là hệ quả của độ bền và độ tươi, không phải nguyên nhân của pH.

Áp dụng tại xưởng của bạn

Mở đơn công nghệ của ba mã hàng Nylon màu đậm đang chạy. Với mỗi mã ghi lại hai thứ: nhóm thuốc nhuộm, và pH bể ở giai đoạn bắt màu. Nếu có mã nào là phức 1:1 chạy dưới pH 3 trên vải có Spandex, đó là mã cần xem lại trước tiên.